Khu Ramsar Bàu Sấu, Vườn quốc gia Cát Tiên

VIETNAM   VIETNAM
ENGLISH   ENGLISH

Khu Ramsar Bàu Sấu, Vườn quốc gia Cát Tiên

Nhiều du khách đến Vườn quốc gia Cát Tiên thường không bỏ lỡ cơ hội tham quan tuyến Bàu Sấu, vì không chỉ được đi xuyên rừng tận mắt chứng kiến nhiều cây gỗ đại thụ, nhiều loài dây leo thân gỗ, quan sát được nhiều loài chim thú, quý hiếm mà còn được chiêm ngưỡng Bàu Sấu có khung cảnh thiên nhiên đẹp như tranh, không khí trong lành, yên tĩnh.


Thực ra, hệ đất ngập nước (ĐNN) ở Vườn quốc gia Cát Tiên không chỉ có Bàu Sấu, mà còn có sông Đồng Nai, các suối và các bàu (đầm) liên thông với nhau rộng hơn 2.500 ha vào mùa mưa và thu hẹp khoảng 100 – 150 ha vào mùa khô như Bàu Sấu, Bàu Chim, Bàu Cá,… Đây là một dạng ĐNN ngọt nội địa ven sông độc đáo trong các kiểu rừng thấp của miền Đông Nam Bộ, Việt Nam. Năm 2005, Ban thư ký công ước Ramsar đã công nhận hệ ĐNN Bàu Sấu là vùng ĐNN có tầm quan trọng thứ 1499 của thế giới. Booyoung Vina

Các vùng ĐNN ở Vườn quốc gia Cát Tiên đều là tự nhiên, mang tính hoang sơ, ít bị tác động của con người. Chất lượng nước tốt, nước trung tính. Sông Đồng Nai (đứng thứ ba sau sông Mê Kông và sông Hồng về chiều dài và diện tích lưu vực sông) bắt nguồn từ dãy núi Lâm Viên, Bi Doup trên cao nguyên Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng, có chiều dài 635 km, đổ ra biển tại cửa Soài Rạp và cửa Lòng Tàu. Đoạn sông Đồng Nai chảy qua Vườn quốc gia Cát Tiên dài khoảng 90 km làm thành ranh giới tự nhiên bao bọc 1/3 chu vi vủa Vườn về phía Bắc, phía Tây và phía Đông. Các suối lớn, nhỏ trong Vườn đều chảy ra sông Đồng Nai.

Chiếc cầu gỗ gác ngang rừng tre lối vào Bàu Sấu

Suối Đắk Lua, là suối lớn nhất trong vùng, có nước quanh năm, bắt nguồn từ vùng núi có cao độ khoảng 350 m ở ranh giới phía Nam của tỉnh Bình Phước. Vào mùa mưa, suối Đắk Lua trở thành cầu nối giữa sông Đồng Nai với các suối, các bàu ở trong Vườn, làm cho vùng lưu vực này trở thành hệ sinh thái ĐNN mở, cung cấp một số lượng lớn phù sa và sinh vật thủy sinh vào sâu trong nội địa các bàu, cung cấp dinh dưỡng cho hệ sinh thái này. Vào mùa khô, nước rút ra sông Đồng Nai qua con suối Đắk Lua hình thành ở các vùng bán ngập là các sinh cảnh đồng cỏ hấp dẫn các loài thú móng guốc.

Giá trị về môi trường sinh thái và đa dạng sinh học, Bàu Sấu là sinh cảnh tuyệt vời của loài cá sấu xiêm, các loài động thực vật thủy sinh, các loài cá nước ngọt, các loài chim có đời sống quan hệ mật thiết với nước, đặc biệt là các loài chim đang bị đe dọa của Việt Nam cũng như của thế giới như ngan cánh trắng, quắm cánh xanh, già đẩy ja va,… Các loài thú bò tót, nai, heo rừng cũng thường xuất hiện ở khu vực này vào mùa khô hàng năm.

ĐNN còn có giá trị về mặt kinh tế và xã hội, có tác dụng điều tiết nguồn nước cho hồ thuỷ điện Trị An, giữ các chất lắng đọng, chất độc và cung cấp nguồn nước cho hơn 15 triệu người dân sinh sống và sản xuất nông nghiệp, thủy sản dọc lưu vực sông Đồng Nai.

ĐNN là địa điểm lý tưởng luôn hấp dẫn các nhà nghiên cứu khoa học khám phá những bí ẩn về thế giới thiên nhiên và là nơi phục vụ cho du khách trong và ngoài nước đến tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng.

Tuy nhiên, do các hoạt động của con người và tác động của tự nhiên, các vùng ĐNN ở Vườn Quốc gia Cát Tiên đang có chiều hướng suy giảm tính đa dạng sinh học và các  giá trị nếu không có những giải pháp quản lý, bảo tồn hữu hiệu và kịp thời. Các hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương gây ô nhiễm nước do việc sử dụng phân bón, hóa chất; Nuôi trồng các loài sinh vật ngoại lai thiếu kiểm soát; Khai thác khoáng sản; Sự xâm lấn của cây Mai dương; Sự phát triển của các loài thực vật thủy sinh (cỏ trấp) làm tăng độ bùn nâng dần đáy bàu. Việc xây dựng các thủy điện ở thượng nguồn sông Đồng Nai có nguy cơ làm thay đổi chế độ thủy văn của lưu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến tính đa dạng sinh học của hệ ĐNN Bàu Sấu; Thay đổi dòng chảy của sông Đồng Nai sẽ dẫn đến hệ lụy nhiều người sẽ mất sinh kế, đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của cộng đồng người dân địa phương sinh sống dọc hạ lưu sông Đồng Nai chắc chắn cũng sẽ bị ảnh hưởng nặng nề.

Theo quan điểm về bảo tồn đa dạng sinh học, các vùng ĐNN sẽ có giá trị nhiều hơn nếu giữ chúng ở trạng thái tự nhiên hoặc làm biến đổi không đáng kể. Mặt khác, hệ sinh thái ĐNN rất nhạy cảm, dễ bị thay đổi và có khả năng đảo ngược nếu quản lý không thích hợp. Từ quan điểm này, kiến nghị Chính Phủ và các ngành chức năng cần có một khung chính sách quản lý bền vững, khuyến khích cộng đồng cùng tham gia quản lý và chia sẻ lợí ích nhằm vừa bảo tồn các chức năng và giá trị của hệ sinh thái ĐNN, vừa sử dụng khôn ngoan và bền vững các vùng ĐNN hiện có.

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

“Công ước về các vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước” (Ramsar, Iran, 1971) ký ngày 2/2/1971 tại thành phố Ramsar của nước Iran (do vậy còn gọi là công ước Ramsar), có hiệu lực từ năm 1975. Tính đến năm 2017, đã có 169 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia Công ước Ramsar với 2.299 khu, diện tích 225.517.367 ha.

Việt Nam đã tham gia Công ước quốc tế Ramsar từ năm 1989 để cam kết sử dụng các vùng ĐNN khôn khéo và bền vững. Việt Nam là thành viên thứ 50, đồng thời cũng là quốc gia đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á tham gia công ước này. Ở Việt Nam hiện có 8 khu Ramsar là Vườn quốc gia Xuân Thủy, Nam Định, Khu hệ ĐNN Bàu Sấu - Vườn quốc gia Cát Tiên, Đồng Nai, Hồ Ba Bể - Vườn quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn, Vườn quốc gia Tràm Chim, Đồng Tháp,  Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, Vườn quốc gia Côn Đảo, Khu Bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, Long An, Vườn quốc gia U Minh thượng, Kiên Giang với diện tích 117.813 ha.

TS. Phạm Hữu Khánh